Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Những vấn đề cơ bản về kĩ thuật nuôi chim Yến lấy tổ

Theo phân loại học mới nhất thì công nghiệp nuôi chim yến trong nhà sử dụng loài Aerodramus fuciphagus, trong khi loài ở các hang động trên các đảo ở Việt Nam là loài Aerodramus germany. Loài sau cho tổ có giá trị gấp hai, ba lần loài trên. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng đây chỉ là hai phân loài. Loài yến đảo cũng có thể được thu hút vào ở trong nhà (Nguyễn Khoa Diệu Thu, 2010).Chúng có một số đặc điểm chung sau:
Chiều dài thân:10 – 16 cm. Loài sau hơi lớn hơn một chút
Trọng lượng chim12,4 – 18,0 g; Sải cánh dài (12-15cm); Trọng lượng tổ 8-18 g
Lưng nâu phớt đen, bụng xám hoặc nâu, hông xám hay không. Đuôi chẻ đôi không sâu

Âm thanh ríu rít và cao. Âm dò đường 2-8 kHz định hướng trong đêm tối. Chim bị hấp dẫn bởi tiếng của đồng loại bao gồm âm thanh tạo bầy đàn, âm thanh thông báo nơi ở, nơi có thức ăn, âm thanh trống gọi mái và ngược lại, âm thanh thông tin giữa cha mẹ với con cái. Công nghệ nuôi chim yến lợi dụng cách thông tin này của chim yến để dẫn dụ chim yến đến nhà mới.
Một đôi chim yến nhà có thể cho 3-4 tổ trong một năm, theo giá thị trường hiện nay là khoảng 1 triệu VND. Chim yến đảo thiên nhiên chỉ cho 2 tổ/năm
Một đôi chim yến nhà có thể đẻ 3 lứa/năm; mỗi lứa thường là 2 con. Như vậy khả năng sinh học tăng đàn của chim yến có thể gấp 2-3 lần/năm
Chim yến có tuổi thọ khoảng 12 năm hay hơn
Chim yến chỉ ăn các loài chân khớp; chúng chỉ có thể đớp mồi trên không trung mà không có thể mổ, nhặt mồi trên mặt đất như gà, vịt. Chúng cũng có thể đớp mồi trên mặt nước, hay trên mặt nước; đó là lý do vì sao chim yến có thể gắn bó với biển đảo có nhiều côn trùng bị gió cuốn chết nổi trên mặt biển. Chúng cũng đớp mồi trong khi bay len lỏi giữa các tán cây to, là là sát bề mặt ruộng lúa, bãi cỏ. Đây là khó khăn lớn nhất khi muốn công nghiệp hóa, làm thức ăn nhân tạo cho chim yến. Thức ăn của chim yến là các loài côn trùng nhỏ bay lên hay bị gió cuốn lên từ các đầm lầy, ao hồ, sông suối ( muỗi, dĩn, phù du, chuồn chuồn nhỏ...) từ các thảm cỏ hoang dã, từ cánh đồng, ruộng vườn (bọ rầy, cánh cứng nhỏ...) từ các kiểu rừng trong đó có rừng ngập mặn (côn trùng ăn lá, mối...), chợ búa, bãi rác ( ruồi, ruồi quả...) trại chăn nuôi, phân súc vật (ruồi,măn mắt...) ...Nói tóm lại ở đâu có cây cối, rác rưởi, phế thải nông lâm nghiệp, có côn trùng, chân khớp là có thức ăn cho chim yến. Thường các côn trùng chân khớp này bị cuốn và bay theo các luồng gió, luồng không khí và chim yến lợi dụng việc này để kiếm ăn không mấy khó nhọc dọc theo các dòng khí lưu.Nhà yến làm dọc theo các dòng khí lưu này có nhiều khả năng thu hút chim yến hơn nơi khác.
to chim yen anpha
Đây là loại chim định cư. Nhưng ở vùng có khí hậu lạnh, một số chim bán di cư, mùa lạnh chúng chuyển xuống vùng ấm hơn, mùa nóng chúng lại quay về.Chúng có khả năng nhận biết vị trí nơi cư trú và làm tổ rất chính xác. Chỉ trừ trường hợp nơi cư trú bị xâm hại chúng mới phải chuyển nơi ở. Do đó gần như không phải lo sợ chim đi khỏi nhà mình nuôi nếu bảo đảm các yếu tố cần thiết. Chỉ có chim ra giàng mới phải đi tìm nơi cư trú mới, và ta thường chỉ gọi được chim tuổi này về nhà mới.
Chim yến là loài sống bầy đàn để tăng hiệu quả bầy đàn khi săn mồi và tiết kiệm không gian ở. Mật độquần thể chim yến tại nơi cư trú rất cao. Một hang yến thiên nhiên như Hòn Nội ở Khánh Hòa có tới hàng trăm nghìn con, mỗi năm cho hàng tấn tổ yến. Những khu công nghiệp nuôi chim yến có thể làm nhiều nhà liên kế, cao nhiều tầng. Chính vì thế công nghiệp nuôi chim yến không cần tốn nhiều diện tích
Về phạm vi hoạt động của chim yến hiện nay còn nhiều tư liệu khác nhau.Một số cho rằng chim yến thường kiếm ăn trong bán kính 50 km. Một số cho rằng chúng có thể bay lượn theo các luồng gió, hoàn lưu khí quyển đi xa hàng trăm km.Do đó chim yến có thể nuôi trên các hải đảo, vùng biển xa mà vẫn kiếm được thức ăn. Tốc độ bay của chim khá cao,bình quân 40 km/h, vận tốc bay tối đa lên tới 130-160 km/h; nhưng chim thường lợi dụng các dòng khí để bay lượn vì tốn rất ít năng lượng khi bay, kiếm ăn. Trước khi vào nhà và trong nhà, chim yến cần có khoảng không bán kính 2 m để bay lượn.
Yếu tố vi khí hậu thích hợp cho nơi ở của chim yến là: nhiệt độ 28 ± 3ºC; độ ẩm tương đối 80 ± 5%; Ánh sáng 0,02 – 0,2 Lux.Cần có độ thông thoáng khí nhất định nhưng không được có gió lùa mạnh. Đây là các yếu tố cần chú trọng cho việc xây dựng nhà nuôi chim yến công nghiệp
Chim yến có một số kẻ thù tự nhiên như tắc kè (ăn trứng và chim con), chuột, sóc, mèo, cầy cáo, cú, diều hâu, chim cắt, rắn... (ăn tổ, trứng, chim), dơi (cạnh tranh nơi ở), kiến lửa, ong bò vẽ, mò, mạt (cắn chết hoặc làm chim con rơi khỏi tổ), gián (ăn tổ) ...làm nhà yến phải tuyệt đối phòng tránh được các thiên địch này.
Chim yến khá nhậy bén với các mùi vị. Chúng ưa thích mùi nhà cũ, mùi tổ yến và các sản phẩm phân giải của tổ yến, của đồng loại,mùi nhà có phân yến cũ...Chúng sợ mùi nhà mới, mùi động vật gây hại, mùi hóa chất lạ, mùi khói, thuốc nổ, hơi người...
Chim yến không có khả năng đậu trên các cành cây, dây điện; không có khả năng đi, nhảy như gà, chim bồ câu. Chân chúng tiêu giảm chỉ còn khả năng bấu bám vào một số vật liệu như dơi, và khi bay phải lấy đà bằng cách thả mình rơi tự do một khoảng cách thường là 2m (với chim non). Vật liệu bấu bám, làm tổ phải có độ nhám, độ mềm, mùi vị nhất định. Vì thế không phải vật liệu nào cũng có thể làm thanh làm tổ cho chim yến
Tổ yến (yến sào) được làm bằng nước bọt của chim yến. Sau mỗi lần đẻ, chim yến lại làm một cái tổ mới để đẻ lứa sau. Nếu ta không lấy tổ cũ đi, chim có thể chỉ lót thêm một vài lớp lên tổ cũ rồi đẻ trứng. Nhưng tổ lưu cữu sẽ làm phát triển bọ mạt, có thể cắn đốt làm chim con phải bò ra, rơi khỏi tổ và chết. Đây là điều rất quan trọng, khác với chăn nuôi động vật hoang dã khác như nuôi gấu lấy mật, nuôi trăn, cá sấu lấy da, thịt...Việc lấy tổ yến không những không gây đau đớn, làm hại động vật mà còn có ích cho chim con
Chim yến trong tự nhiên phân bố chủ yếu ở các đảo ở Đông Nam Á; nay được nuôi bán hoang dã trong nhà trên quy mô công nghiệp ở ASEAN và không bị cạnh tranh bởi các quốc gia ngòai khu vực.